Làm thế nào để đạt được tỷ lệ 10% diện tích phục hồi tự nhiên trong rừng được cấp chứng chỉ?
Các công ty có diện tích lớn (vài ngàn ha rừng trồng) thì mới có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của chỉ số này. Còn lại phần lớn các nhóm hộ rừng trồng CCR quy mô nhỏ thì khó đáp ứng được yêu cầu này do diện tích rừng nhỏ và manh mún.
Về lý thuyết, các công ty LN thường được giao quản lý một diện tích rừng trồng khá lớn đến vài ngàn ha; và do vậy nếu cộng tổng thể diện tích phục hồi tự nhiên thì có thể dễ dàng đáp ứng được chỉ số này. Tuy nhiên trên thực tế, rất nhiều công ty luôn biện minh cho rằng tỷ lệ 10% là quá lớn và gây thiệt hại đến hiệu quả kinh doanh của đơn vị. Thực ra lý giải này khó thuyết phục về mặt trách nhiệm với các vấn đề môi trường chung, nếu hiểu chứng chỉ rừng theo nghĩa là ‘quản lý rừng có trách nhiệm’ hoặc ‘quản lý bền vững lâm phần theo cả ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường’. Ngoài ra, nếu quan sát trên thực tế, không mấy khi một lô rừng được tận dụng hết tối đa 100% diện tích để trồng rừng kinh tế. Nghĩa là, nếu chịu khó thống kê, rà soát hiện trạng rừng thì hiệu suất sử dụng diện tích đất trồng rừng có khi chỉ đạt 70-80% tổng diện tích đất tự nhiên. Phần còn lại chủ yếu là khe suối, dốc đá, hoặc đơn giản là các khu vực không thể trồng rừng. Nếu các chủ rừng rà soát tốt phần hiện trạng sử dụng đất thì rất có thể tỷ lệ đưa vào phục hồi tự nhiên có thể lên đến 20-30% tổng diện tích đất xin cấp chứng chỉ.
Đối với các nhóm hộ quy mô nhỏ (SLIMF), chỉ số 6.5.5 cho phép quản lý một diện tích ‘’mẫu tự nhiên’’(phục hồi tự nhiên) ngoài diện tích cấp chứng chỉ (với quy đổi tương đương). Trong thực tế, các nhóm hộ thường có xu hướng gạt ra những khu vực này và không đưa vào diện tích cấp chứng chỉ. Bài học gần đây ở một vài nhóm hộ là đưa luôn diện tích rừng (tự nhiên) cộng đồng đang quản lý vào trong tổng diện tích cấp chứng chỉ của nhóm, và do vậy sẽ giải quyết được bài toán 10% mà chỉ số 6.5.5 đặt ra.